CHÀO MỪNG BẠN ĐẾN VỚI TRANG WEB TRUYỀN THÔNG GIÁO XỨ THÁNH TÂM      (website đang được phát triển - eMail: GXThanhTamHN@gmail.com) Cảnh báo lừa đảo bán vé tham dự Thánh lễ với Đức Thánh Cha tại Camerun Trước thềm chuyến viếng thăm Camerun của Đức Thánh Cha XIV, từ ngày 15-18/4, Giáo hội địa phương và Tòa Sứ thần Tòa Thánh đã phát đi cảnh báo khẩn cấp về các hình thức lừa đảo trực tuyến đang lan rộng trên các ứng dụng nhắn tin để dụ dỗ tín hữu trả tiền mua vé tham dự các Thánh lễ do Đức Thánh Cha chủ sự. Đọc tất cả   Hồ sơ phong thánh cho 12 vị tử đạo Campuchia đã được gửi về Bộ Phong Thánh Giáo hội Công giáo tại Campuchia vừa hoàn tất giai đoạn điều tra cấp giáo phận về sự tử đạo của 12 tín hữu trong thời kỳ Khmer Đỏ. Trong số này có Đức cha Joseph Chhmar Salas – vị giám mục người Khmer đầu tiên, người đã chọn ở lại với đoàn chiên thay vì chạy trốn. Bản báo cáo khoảng 2.500 trang, tổng hợp lời chứng và tài liệu lịch sử, đã được hoàn tất và đệ trình lên Bộ Phong Thánh tại Vatican. Đọc tất cả   Các giám mục Nigeria nói với Đức Thánh Cha: Người dân của chúng con đang chết dần chết mòn Trong chuyến viếng thăm “ad limina” tại Roma từ ngày 1 đến 16/3/2026, các Giám mục Nigeria đã yết kiến Đức Thánh Cha Lêô XIV và trình bày với ngài về thực trạng nghiêm trọng mà người dân đang đối mặt. Các giám mục cho biết họ mang theo “tiếng kêu của dân chúng” nhằm kêu gọi sự quan tâm của Tòa Thánh, đồng thời phản bác những “tường thuật sai lệch” từ phía chính phủ Nigeria. Đọc tất cả   Quốc hội Scotland bác bỏ dự luật trợ tử gây tranh cãi Ngày 17/3/2026, Quốc hội Scotland đã chính thức bác bỏ dự luật hợp pháp hóa an tử và trợ tử và, với kết quả bỏ phiếu 69 phiếu chống, 57 phiếu thuận và 1 phiếu trắng. Quyết định này đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong cuộc tranh luận kéo dài hơn hai năm về một trong những vấn đề đạo đức và xã hội gây tranh cãi nhất tại quốc gia này. Đọc tất cả   Nữ tu 106 tuổi vẫn phục vụ trong dòng kín và loan báo Tin Mừng qua YouTube Ngày 14/3/2026, nữ tu Anna Maria Thánh Tâm, người Ý, thuộc Dòng Nữ Tỳ Thánh Thể, đã mừng sinh nhật lần thứ 106 tại đan viện ở Seregno, gần thành phố Milano ở miền bắc nước Ý. Dù tuổi cao, sơ vẫn tiếp tục đời sống phục vụ âm thầm trong dòng kín, chăm sóc các nữ tu đau yếu và chia sẻ suy niệm Tin Mừng qua YouTube. Đọc tất cả   Cha Pasolini: “Đừng dùng những điều thuộc về Thiên Chúa để tìm kiếm sự chấp thuận và công nhận” Trong bài suy niệm Mùa Chay thứ ba dành cho Đức Thánh Cha Lêô và Giáo triều Roma vào sáng ngày 20/3/2026, cha Roberto Pasolini – giảng thuyết viên Phủ Giáo hoàng – đã nhấn mạnh rằng Tin Mừng không phải là một thông tin để truyền đạt, nhưng là một sự sống cần được trao ban và lớn lên trong đời sống mỗi người. Cha mời gọi sống đức tin cách chân thực, để chính đời sống trở thành lời chứng sống động cho Tin Mừng. Đọc tất cả   Biết Để Yêu #4: Đức Tin và Lý Trí – Đôi Cánh của Tinh Thần Giữa dòng chảy của thời đại thực chứng vốn đề cao những gì mắt thấy tai nghe, đức tin thường bị dán nhãn là mù quáng, là "kẻ đối đầu" của lý trí. Bài học hôm nay giúp chúng ta khám phá một góc nhìn hòa hợp hơn: Đức tin và lý trí vốn không hề xung đột, mà là hai thực tại luôn đan quyện vào nhau. Chúng tựa như đôi cánh giúp con người bay cao và vươn xa hơn trên hành trình tìm kiếm chân lý. Đọc tất cả   Cha Patton: Cầu nguyện và chay tịnh là “vũ khí” duy nhất cho hòa bình tại Trung Đông Giữa bối cảnh xung đột leo thang tại Trung Đông, cha Francesco Patton, dòng Phanxicô, kêu gọi hòa bình, khẳng định rằng đối với các tín hữu, “cầu nguyện và chay tịnh là những ‘vũ khí’ duy nhất được phép sử dụng”. Đọc tất cả   Đức Hồng y Parolin kêu gọi chấm dứt leo thang xung đột, đề cao con đường đối thoại và ngoại giao Trước những căng thẳng ngày càng gia tăng trên trường quốc tế, Đức Hồng y Pietro Parolin, Quốc vụ khanh Tòa Thánh, đã mạnh mẽ kêu gọi các bên liên quan chấm dứt nguy cơ leo thang xung đột và ưu tiên con đường đối thoại, ngoại giao. Đọc tất cả   ĐTC Lêô: Gia đình là nền tảng xã hội và là “Giáo hội tại gia” Nhân kỷ niệm 10 năm Tông huấn hậu Thượng Hội đồng Amoris laetitia, Đức Thánh Cha Lêô XIV đã gửi sứ điệp đến toàn thể Dân Chúa, mời gọi tạ ơn Thiên Chúa và tiếp tục hành trình canh tân mục vụ gia đình trong ánh sáng Tin Mừng. Đọc tất cả  

Giáo Hội Việt Nam

Tông thư nhân dịp kỷ niệm 400 năm ngày sinh của Blaise Pascal

21/06/2023 - 54

TÔNG THƯ NHÂN DỊP KỶ NIỆM 400 NĂM NGÀY SINH CỦA BLAISE PASCAL

Jean-Charles Putzolu

Blaise Pascal sinh ngày 19/6/1623. Là một nhà toán học và vật lý học, ông đã cống hiến cuộc đời mình để tìm kiếm Thiên Chúa, đưa đức tin và lý trí lại gần nhau hơn trong thái độ tôn trọng sự cao cả của đức tin. Ngày 19/6/2023, Đức Phanxicô đã bày tỏ lòng tôn trọng đối với ông trong một Tông thư có tựa đề “Sublimitas et miseria hominis” (“Sự cao cả và sự khốn khổ của con người”), nhân kỷ niệm 400 năm ngày sinh của ông.

Một người tìm kiếm chân lý không biết mệt mỏi”, Đức Thánh Cha Phanxicô đã xác định Blaise Pascal, nhà toán học, vật lý học, triết gia và thần học gia, như thế, vào ngày kỷ niệm 400 sinh nhật của ông 19/6/1623 ở Clermont Ferrand, miền trung nước Pháp, ở trung tâm của Auvergne  và những ngọn núi lửa đã tắt của nó. Đức Phanxicô đã dành một Tông thư cho ông và khởi đi từ câu sau đây của Thánh vịnh 8, 5: “Con người là chi, mà Chúa cần nhớ đến, phàm nhân là gì, mà Chúa phải bận tâm?”.

Một câu hỏi hiện sinh, ở trung tâm của mỗi con người, mà Pascal đã tự hỏi và trả lời như sau: “Vì cuối cùng thì người ta trong cảnh vật này là gì? Đối với thái cực thì người ta là một cái hư vô, đối với cái hư vô thì người ta là một cái thái cực”[*]. Câu hỏi phản ánh nơi nhà toán học, người luôn cởi mở với thực tại,  một sự cởi mở khác “với các chiều kích của tri thức và tồn tại, cởi mở với người khác, cởi mở với xã hội”.

Đức Thánh Cha nhấn mạnh, Pascal cũng là nguồng ốc của phương tiện giao thông công cộng đầu tiên ở Paris; điều này cho thấy con người này, trong quá trình tìm kiếm Thiên Chúa, và sau khi hoán cải, đã không bao giờ tách mình ra khỏi những vấn đề vật chất của xã hội thời bấy giờ. Do đó, Pascal đã không khép mình trước người khác, và ngay cả khi suy yếu vì bệnh tật, ông đã hứa cống hiến hết mình cho người nghèo, nếu Chúa cho phép ông bình phục. Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Thật cảm động khi ghi nhận rằng, trong những ngày cuối đời của mình, một nhà tư tưởng lỗi lạc như Blaise Pascal không thấy điều gì cấp bách hơn là dồn hết năng lực của mình để phục vụ lòng thương xót: “Đối tượng duy nhất của Thánh Kinh là đức ái””.

Một người bạn đồng hành đối với các Kitô hữu ngày nay

Đức Thánh Cha giải thích rằng chứng tá của Pascal là một khích lệ cho các Kitô hữu ngày nay. Ông vẫn là “người bạn đồng hành” trong “việc chúng ta tìm kiếm hạnh phúc đích thực và, theo hồng ân đức tin, trong việc chúng ta khiêm tốn và hân hoan nhận ra Chúa đã chết và sống lại”. Pascal đã nói một cách “tuyệt vời” về thân phận con người, và cuốn “Pensées” của ông là một “tượng đài” vốn “không thể hiểu được nếu người ta không biết rằng Chúa Giêsu Kitô và Thánh Kinh vừa là trung tâm vừa là chìa khóa của nó”. Và nếu Pascal được thúc đẩy viết về con người và Thiên Chúa, thì đó là vì ông đã đi đến chỗ xác tín rằng con người sẽ chẳng là gì nếu không có Thiên Chúa. Ông viết trong cuốn “Pensées” của mình: “Chúng ta chỉ biết sự sống, sự chết nhờ Chúa Giêsu Kitô. Ngoài Chúa Giêsu Kitô, chúng ta không biết sự sống hay sự chết của mình là gì, không biết Thiên Chúa hay chính chúng ta là gì”.

Tuy nhiên, Đức Thánh Cha nói tiếp, chúng ta phải tránh xa cám dỗ phô trương đức tin của mình như là một “sự chắc chắn không thể chối cãi”. Pascal biết rằng ân sủng của Thiên Chúa chỉ có thể được đón nhận nơi một con tim tự do. “Tôi đề nghị tất cả những ai muốn tiếp tục tìm kiếm chân lý – một nhiệm vụ không có hồi kết trong cuộc đời này -, hãy lắng nghe Blaise Pascal, một người có trí thông minh phi thường muốn nhắc nhở chúng ta rằng bên ngoài mục đích của tình yêu thì không có chân lý nào đáng giá […] vì chân lý bên ngoài tình yêu không phải là Thiên Chúa, và là hình ảnh của Ngài và là một thần tượng không được yêu mến hay tôn thờ”, Đức Thánh Cha viết như thế, mà đối với ngài, Pascal bảo vệ chống lại những học thuyết sai lầm và mê tín dị đoan. Khi nhìn thấy sự xấu xa và chọn lựa nó, chỉ có sức mạnh của Chúa Thánh Thần mới có thể giải thoát chúng ta khỏi sự yếu hèn và, trích dẫn cuộc phỏng vấn với M. de Sacy, Đức Phanxicô nói tiếp: “Nếu không có sự khôn ngoan phân định, chúng ta có thể dễ dàng trở thành những con rối phó mặc cho các xu hướng của chốc lát”. Đối với Đức Thánh Cha, trí thông minh và đức tin sống động của Blaise Pascal có thể giúp tiến bộ xuyên qua những tối tăm và bất hạnh của thế giới này.

Một đứa trẻ thông minh phi thường

Pascal trải qua thời thơ ấu với chị và em gái, được cha nuôi dưỡng sau khi mẹ ông qua đời lúc ông chỉ mới 3 tuổi. Từ khi còn nhỏ, ông đã bộc lộ trí thông minh phi thường  và chứng mình được các công thức toán học mà không hề biết rằng những định lý này đã tồn tại. Ông thường lui tới các học giả cùng thời lúc ông 17 tuổi, và hai năm sau, ông đã phát triển chiếc máy tính đầu tiên. Đắm chìm trong thế giới của lý trí con người, “ông mời gọi chúng ta sử dụng nó để giải mã thế giới xung quanh chúng ta”. Đức Thánh Cha nhận định: “Việc thực hành tin tưởng vào lý trí tự nhiên này, điều khiến ông liên đới với tất cả các anh em đồng loại của mình trong việc tìm kiếm chân lý, sẽ cho phép ông nhận ra giới hạn của chính trí tuệ và, đồng thời, mở ra cho những lý do siêu nhiên của Mặc Khải”.

Triết gia

Theo Đức Thánh Cha, nhiều tác phẩm của Pascal, chẳng hạn như “Pensées”, thuộc phạm vi diễn ngôn triết học. Cần phải lưu ý điều này để hiểu các tác phẩm của ông về Kitô giáo. Pascal là một người ngưỡng mộ các triết gia Hy Lạp, như Platon và Aristote, nhưng ông nhận ra giới hạn của các triết gia này là những giới hạn của lý trí. Tự nó mà thôi, lý trí không thể mang lại câu trả lời cho tất cả các vấn đề như vấn đề, mà hôm qua cũng như hôm nay, có tầm quan trọng nhất, “về ý nghĩa trọn vẹn của số phận, cuộc sống và hy vọng của chúng ta”. Đức Phanxicô tìm thấy trong “Pensées” nguyên tắc theo đó thực tại lớn hơn ý tưởng, nguyên tắc “dạy chúng ta tránh xa những cách khác nhau che khuất thực tại”, và do đó tránh xa “những ý thức hệ chết chóc mà chúng ta tiếp tục đau khổ trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội, nhân chủng học hay luân lý” vốn “kìm giữ những người theo chúng trong bong bóng niềm tin trong đó ý tưởng đã thay thế hiện thực”.

Triết lý của Pascal nằm ở một khái niệm khác: con người vừa cao cảo vừa khốn khổ. Cao cả  bởi lý trí của nó, và cũng cao cả bởi vì nó biết mình khốn khổ. Giữa hai thái cực của mình, con người chọn quên đi bằng công việc, bằng giải trí hay các mối tương quan gia đình hay bằng hữu, nhưng cũng bằng những tật xấu mà một số đam mê hướng tới. Đức Thánh Cha viết: “Tuy nhiên, sự giải trí không xoa dịu cũng như không lấp đầy khát vọng lớn lao của chúng ta về cuộc sống và hạnh phúc”. Vậy mà, vực thẳm vô tận này chỉ có thể được lấp đầy bởi Thiên Chúa. Đi đến kết luận này, Đức Thánh Cha viết, Pascal “là người Kitô hữu muốn nói về Chúa Giêsu Kitô cho những người hơi vội vàng quyết định rằng không có lý do vững chắc để tin vào những chân lý của Kitô giáo”.

Đêm lửa sáng, sự hoán cải

Vào ngày 23/11/1654, Pascal đã sống một trải nghiệm thần bí mãnh liệt, “đêm lửa sáng”, mà ông đã ghi lại ngày tháng và kể lại trong một Bản ký sự được tìm thấy trong áo khoác của ông sau khi ông qua đời. Cuộc “gặp gỡ” này của Pascal với Thiên Chúa khiến ông tràn ngập “niềm vui sống động và vô tận”. “Pascal làm chứng điều này cho toàn thể Giáo hội cũng như cho bất kỳ người tìm kiếm Thiên Chúa nào: đó không phải là Thiên Chúa trừu tượng hay Thiên Chúa vũ trụ. Đó là Thiên Chúa  của một ngôi vị, của một tiếng gọi, Thiên Chúa  của Abraham, Isaac và Giacóp, vị Thiên Chúa  là sự chắc chắn, là cảm xúc, là niềm vui”.

Và Đức Thánh Cha Phanxicô trích dẫn lời vị tiền nhiệm là thánh Gioan-Phaolô II trong thông điệp về mối tương quan giữa đức tin và lý trí: các triết gia như Pascal “đã cảm nghiệm rằng đức tin giải thoát lý trí khỏi tính tự phụ”.

Tiếp đến, lấy lại  Đức Bênêđíctô XVI, Đức Phanxicô tiếp tục nói về chủ nghĩa duy tín, nói cách khác là ý chí tin tưởng chống lại lý trí, vốn bị bác bỏ bởi truyền thống Công giáo, và giải thích sự gắn bó sâu sắc của Pascal với “tính hợp lý của đức tin vào Thiên Chúa”. Đức tin hợp lý là một món quà của Thiên Chúa, Đấng không áp đặt, và đối với Pascal, “có đủ ánh sáng cho những ai chỉ ao ước nhìn thấy, và đủ bóng tôi cho những ai có khuynh hướng ngược lại”. Ông nói, “đức tin” khác với “bằng chứng”; cái này “thuộc về con người”, cái kia là “một hồng ân của Thiên Chúa”.

Và vì trong lời khẳng định này, nơi Pascal, một lần nữa có mối liên hệ thường hằng giữa đức tin và lý trí, nên Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi làm quen với công trình của ông để “đặt mình vào trường học của một Kitô hữu có tính lý trí phi thường, biết rất rõ ý thức đến một trật tự được thiết lập bởi hồng ân của Thiên Chúa trên lý trí”. “Cái nhìn rất rõ ràng” về thế giới và chính mình mà Blaise Pascal đạt được là kết quả của “trí tuệ tinh xảo” của ông vốn đặt chúng ta trên con đường của “trái tim”. Ông viết trong “Pensées”: “Chúng ta biết được chân lý không chỉ bằng lý trí mà còn bằng trái tim, chính bằng cách sau cùng này mà chúng ta biết được các nguyên lý đầu tiên và thật vô ích khi sự lý luận cố gắng chống lại chúng, mà không có phần nào trong đó”. Đức Phanxicô nói thêm: “Các chân lý thần linh, chẳng hạn như việc Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng chúng ta, là tình yêu, việc Thiên Chúa là Cha, Con và Thánh Thần, việc Ngài đã nhập thể trong Chúa Giêsu Kitô, chết và phục sinh để cứu độ chúng ta – không thể chứng minh được bằng lý trí, nhưng có thể được biết bằng sự chắc chắn của đức tin, và tiếp đến chuyển từ trái tim thiêng liêng sang khối óc lý trí, nơi công nhận chúng là chân thật”.

Thuyết Jansen (Jansénisme)

Đức Phanxicô dành một đoạn trích từ thư mục vụ của mình cho giai đoạn tranh cãi này trong cuộc đời của Pascal. Jacqueline, em gái của ông, gia nhập một dòng tu chịu ảnh hưởng bởi Cornélius Jansen. Chính Pascal, sau khi trở lại, đã tỉnh tâm ở đan viện Port Royal vào tháng 1/1655, nơi em gái ông đang ở. Tuy nhiên, vì không thuộc dòng ở Port Royal, nên vào năm 1656 và năm tiếp sau, ông được giao nhiệm vụ bảo vệ những người theo thuyết Jansen trong cuộc tranh cãi của họ với các tu sĩ Dòng Tên, đặc biệt xung quanh vấn đề về ân sủng của Thiên Chúa. Đức Thánh Cha viết: “Nếu một số đề nghị được gọi là “theo thuyết Jansen” thực sự trái ngược với đức tin, điều mà Pascal đã nhìn nhận, thì ông đã phản đối rằng chúng có mặt trong tác phẩm Augustinus, và được mọi người của Port-Royal theo đuổi. Tuy nhiên, một số khẳng định riêng của ông, chẳng hạn liên quan đến sự tiền định, được rút ra từ thần học của thánh Augustinô, mà các công thức của nó đã được Jansénius trau chuốt, là không đúng. […] Lúc đó, Pascal chân thành tin rằng ông đang tấn công chủ thuyết Pêlagiô hay chủ thuyết bán-Pêlagiô mà ông nghĩ rằng ông đã xác định được trong các học thuyết được theo đuổi bởi các tu sĩ Dòng Tên theo thuyết Molina, được đặt theo tên của nhà thần học Luis de Molina, qua đời vào năm 1600 nhưng ảnh hưởng của ông vẫn còn sống động vào giữa thế kỷ XVII”. Và Đức Thánh Cha kết luận về chương này: “Chúng ta hãy tin tưởng vào ông vì sự thẳng thắn và chân thành trong các ý định của ông. […] Lập trường cuối cùng của Pascal về ân sủng, và đặc biệt là về việc Thiên Chúa muốn tất cả mọi người được cứu độ và nhận thức đầy đủ về sự thật, đã được phát biểu bằng những thuật ngữ Công giáo hoàn hảo vào cuối đời của ông”.

Những dòng cuối cùng trong Tông thư của Đức Thánh Cha nhấn mạnh “sự phong phú và hiệu quả phi thường” của cuộc đời ngắn ngủi của Pascal. Bị bệnh nặng, ông qua đời lúc mới 39 tuổi, vào ngày 19/8/1662 với ước nguyện “Xin Chúa không bao giờ bỏ rơi con”.

 Tý Linh
(theo Jean-Charles Putzolu, Vatican News)
Nguồn: xuanbichvietnam.net (19.06.2023)

Theo nhật báo La Croix, năm 2017, trong một cuộc phỏng vấn trên nhật báo La Repubblica của Ý, vị Giáo hoàng người Argentina cho rằng Pascal có thể được phong chân phước. Thủ tục đáng lẽ phải được thực hiện bởi giáo phận Paris, nhưng vẫn chưa được xúc tiến.



[*] Câu đầy đủ của Pascal như sau: “Vì cuối cùng thì người ta trong cảnh vật này là gì? Đối với thái cực thì người ta là một cái hư vô, đối với cái hư vô thì người ta là một cái thái cực, nghĩa là một khoảng giữa cái có với cái không. Người ta còn xa lắm mới hiểu được cái cùng cực, cho nên cái nhẽ cứu cánh cùng cái nguyên lý vạn vật còn bí mật không tài nào khám phá được; không thể biết được cái hư vô ở đấy mà ra, mà cũng không thể biết được cái thái cực tiêu diệt về đấy” (“Car enfin qu’est-ce que l’homme dans la nature? Un néant à l’égard de l’infini, un tout à l’égard du néant, un milieu entre rien et tout. Infiniment éloigné de comprendre les extrêmes, la fin des choses et leur principe sont pour lui invinciblement cachés dans un secret impénétrable; également incapable de voir le néant d’où il est tiré, et l’infini où il est englouti”, bản dịch của Phạm Quỳnh).



Nguồn: Hội Đồng Giám Mục Việt Nam - hdgmvietnam.com

× Thành công! Câu hỏi của cộng đoàn đã được gửi. Câu hỏi của quý vị sẽ được trả lời trong thời gian sớm nhất có thể. Xin cám ơn. Trân trọng.